BỆNH TÔM CHẾT SỚM EMS

1.  LỊCH SỬ

Bệnh tôm chết sớm (Early Mortality Syndrome – EMS) cũng  còn  gọi  là  chứng  hoại  tử  gan – tụy cấp (Acute Hepatopancreatic Necrosis Syndrome  AHPNS) là bệnh thiệt hại nghiêm trọng cho tôm nuôi tại Việt Nam (cả tôm thẻ chân trắng lẩn tôm sú) dù là nuôi thâm canh hoặc bán thâm canh.

Bệnh được ghi nhận lần đầu tiên ở Trung Quốc năm 2009, tại Việt Nam năm 2010, ở Malaysia và Thái Lan năm 2011 và ở Mexico năm 2013.

2. NGUYÊN NHÂN

Bệnh do vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus tích hợp với phage độc tương thích, tạo ra một độc tố mạnh làm phá hủy mô và làm rối loạn chức năng gan tụy trong hệ thống tiêu hóa của tôm. Đây là nguyên nhân làm tôm chết sớm trong vòng 30 ngày đầu tiên sau khi thả, tỷ lệ tôm chết có thể lên tới trên 70%.

Hình thái vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus

Bệnh tấn công theo hai giai đoạn:

  • Giai đoạn đầu: Vibrio parahaemolyticus nhiễm phage tiết ra độc tố làm tôm yếu, mất sức đề kháng.
  • Giai đoạn sau: Một đợt tấn công thứ 2 của vi khuẩn,   tiết ra độc tố làm rối loạn chức năng gan tụy và hoại tử mô gan tụy tôm chết hàng loạt.

Chính cơ chế này giải thích lý do tại sao khó phòng bệnh và việc điều trị bằng kháng sinh không mang lại hiệu quả mong muốn.

3. DẤU HIỆU BỆNH LÝ

Trên cả đàn tômTrên cá thể tômTrên ao nuôi
– Giai đoạn đầu các triệu chứng bệnh thường không rõ ràng.

– Tôm chậm lớn và chết ở đáy ao.

– Tiếp theo tôm bệnh có hiện tượng vỏ mềm và biến màu.

– Tôm bị bệnh thường lờ đờ, nơi tấp mé, quay đảo trên mặt nước, giảm ăn và chết sau đó.

– Tôm có thể chết rất nhanh sau khi phát hiện bệnh 2-3 ngày.

– Nhiều trường hợp ghi nhận tôm ngưng chết khi ngưng cho ăn và sau đó chết rất nhanh khi cho ăn trở lại

– Gan tôm bệnh thường gặp có nhiều trạng thái khác nhau như:

+ Sưng to, mềm nhũn.

+ Biến màu.

+ Nhiều trường hợp gan bị teo nhỏ và dai.

+ Vỏ mềm, đục cơ.

– Tôm bị phân trắng kéo dài

– Giảm lượng khoáng chất trong nước ao nuôi

– Giảm độ trong xuống dưới 30 cm

– Oxy hòa tan dưới 5ppm trong suốt tháng nuôi đầu tiên sau khi thả giống.

– pH dao động trong ngày hơn 0,3.

– Khí độc NHxuất hiện rất sớm trong thời gian nuôi.


4. CHUẨN ĐOÁN BỆNH:

  • Soi mẫu ép tươi mô gan tụy dưới kính hiển vi

Ống gan tụy bình thường phủ bởi hàng loạt các giọt lipid nhỏ nên ở trạng thái bình thường, không thể nhìn thấy các tế bào khi ép tươi. Nếu nhìn thấy được các tế bào gan tụy dưới kính hiển vi khi soi tươi nghĩa là lượng lipid thấp, gan tụy đã bắt đầu bất bình thường.

Khi nhìn thấy các hạt tròn trong mẫu ép tươi nghĩa là tế bào gan tụy đã bị bong tróc, tình trạng bệnh đã chuyển nặng.

 

  • Quan sát gan tụy tại ao

Gan tụy đục, chết nhiều, có thể phát sáng

Khối gan tụy nhạt màu, nhỏ
So sánh khối gan tụy giữa tôm khỏe (A) , Tôm bệnh (B)
  • Sử dụng biện pháp xét nghiệm sinh học phân tử

Vibrio parahaemolyticus là loài phổ biến trong môi trường, và chỉ có các  dòng vi khuẩn đặc biệt nhiễm phage mới mang độc tính dẫn tới hoại tử gan tụy, chết sớm. Do đó, các phương pháp xét nghiệm thông thường như cấy đĩa, soi tươi chỉ cho biết có Vibrio hay không mà không phát hiện được dòng vi khuẩn gây bệnh này.

Xét nghiệm sinh học phân tử cho phép phát hiện sớm bệnh EMS trên tôm. 3 kỹ thuật chính được  sử dụng hiện nay :

Tùy vào đối tượng mẫu, điều kiện cơ sở vật chất người dân có thể  lựa chọn biện pháp xét nghiệm phù hợp. Như với mẫu tôm bố mẹ, xét nghiệm tốt nhất nên được thực hiện bằng PCR hoặc realtime PCR.

 Trong khi đó, nếu với đối tượng mẫu tôm post kiểm trước khi thả, kiểm tra định kỳ hay tôm chết bất thường cần kiểm tra tại chỗ, ta có thể sử dụng biện pháp LOCI-LAMP PCR . Đây là kỹ thuật tiên tiến được phát triển bởi viện LOCI cho phép tực hiện xét nghiệm ngay tại chỗ  trong thời gian ngắn với mức kinh phí trang bị ban đầu thấp.

Phát hiện sớm bệnh EMS cho phép người nuôi có biện pháp xử lý kịp thời, giảm tối đa thiệt hại bởi diển biến bệnh rất nhanh và bất ngờ.

 

Nguồn: http://nghetomtep.com, http://www.vietlinh.vn/,

Tin khác

Đối tác

Copyright 2017 ADN LOCI